Phương pháp thầy thiết kế – trò thi công

by tintuc5983

(GD&TĐ) – Năm 1978, GS.TSKH Hồ Ngọc Đại sáng lập ra Trung tâm Công nghệ Giáo dục và Trường THCS Thực nghiệm Hà Nội là nơi ứng dụng công nghệ giáo dục vào thực tế giảng dạy cho học sinh Tiểu học.Tại Trường Thực nghiệm, nội dung, phương pháp và cách tổ chức GD từ lớp 1 được đổi mới. Hơn 30 năm qua, công nghệ giáo dục đã trải qua không ít thăng trầm. Đến nay, theo GS Hồ Ngọc Đại, công nghệ giáo dục được áp dụng ở trên 20 tỉnh, thành. Điểm sáng của công nghệ giáo dục là Tiếng Việt 1 – cuốn sách giáo khoa đang được đông đảo nhà trường trên cả nước sử dụng.

Theo quan điểm “học sinh là nhân vật trung tâm” (Học sinh là mục tiêu giáo dục được quy định trong Luật Giáo dục), tác giả luôn vì lợi ích của trẻ em, vì hạnh phúc đi học của trẻ em. Quan điểm này phần nào đã đi vào nhiều trường tiểu học thể hiện ở khẩu hiệu dành cho trẻ em: “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Quan điểm này cũng thể hiện ở cách dạy học hướng tới mục đích “Trẻ em nào cũng được học – học gì được nấy, học đến đâu chắc đến đấy”. Cách dạy và học này được tác giả gọi là “Thầy thiết kế – Trò thi công”.

Công nghệ giáo dục có thể hiểu là quá trình giáo dục có các đặc điểm chính: 1. Chủ động tổ chức; 2. Chủ động kiểm soát cả quá trình và kết quả. Nhờ 2 đặc điểm này mà công nghệ giáo dục có thể chuyển giao theo bài bản khoa học. công nghệ giáo dục có thể diễn đạt bằng công thức A -> a (A gọi là a lớn, -> là mũi tên, a là a nhỏ), các thành tố của công thức này được hiểu như sau:

A là nội dung giáo dục bao gồm 3 lĩnh vực: Khoa học, Nghệ thuật, Lối sống, được lựa chọn đưa vào nhà trường theo 3 nguyên tắc: Phát triển, Chuẩn mực, Tối thiểu. Theo nguyên tắc Phát triển thì chương trình các môn học đảm bảo được lôgic khoa học của mỗi môn học, mặt khác đảm bảo phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý và tạo được sự phát triển của học sinh trong quá trình học tập.

Theo nguyên tắc Chuẩn mực thì nội dung giáo dục đưa đến cho học sinh phải đảm bảo tính chuẩn mực khoa học, chuẩn mực đạo đức lối sống và tính nghệ thuật. Theo nguyên tắc Tối thiểu thì nội dung giáo dục đưa đến cho học sinh hướng làm sao tinh giản đảm bảo tính cơ bản thiết yếu (ít mà tinh) (theo tác giả thì nguyên tắc này đảm bảo chất liệu thiết yếu và tối thiểu về vật liệu nên gọi là nguyên tắc “tối thiểu”, nhờ vậy mà có được tính tối ưu hay cũng có thể gọi là nguyên tắc tối ưu).

a là A được học sinh lĩnh hội tồn tại trong nhân cách các em. Đó là những giá trị mà mỗi học sinh có được trong quá trình học tập, thể hiện ở phương pháp học tập, ở khả năng tư duy, ở kiến thức, kĩ năng và những nét tâm lí tích cực, đó chính là những yếu tố góp phần tạo nên năng lực và phẩm chất của học sinh.

-> là quá trình chuyển từ A vào trong mỗi học sinh thành a bằng phương pháp “Thầy tổ chức – Trò hoạt động” hay “Thầy thiết kế – Trò thi công”.

Theo cách dạy và học “Thầy thiết kế – Trò thi công” thì trong quá trình dạy và học, Thầy làm nhiệm vụ hướng dẫn và theo hướng dẫn của Thầy, Trò nào cũng làm việc và qua làm việc mà các em có được sản phẩn cần thiết, cái mà mình cần học (cách thức này cũng có thể hiểu là học đi đôi với hành, hành để học).

Cách dạy và học này đảm bảo cho mỗi học sinh, ít nhất đều lĩnh hội được nội dung học tập (cái trong A), tối thiểu đều đạt được yêu cầu, nghĩa là tối thiểu đều đạt được chuẩn kiến thức và kỹ năng do Bộ quy định; đồng thời có thêm những cái khác như sự phát triển tư duy, tính linh hoạt năng động trong ứng xử, sự quan tâm chia sẻ với bạn bè, tính tự tin.

Qua thực tế ở các trường lớp có tổ chức dạy và học theo công nghệ giáo dục trong thập niên 90 của thế kỉ XX thì đa số học sinh đều đạt kết quả cao hơn so với học sinh các lớp đại trà ở cùng địa phương (theo đánh giá về kiến thức và kỹ năng), ngoài ra còn có được những phẩm chất như vừa nêu.

Tạo hứng thú cho học sinh bằng phương pháp mới trong từng tiết học

Theo phương pháp công nghệ giáo dục thì mỗi học sinh chính là chủ thể tích cực của hoạt động học. Nhờ sự dẫn dắt, giúp đỡ của giáo viên mỗi em tự mình làm việc để có kết quả (tự mình làm ra sản phẩm học tập của mình), nhờ vậy mà mỗi em lĩnh hội được nội dung học tập, tạo cho mình kiến thức, kĩ năng, các phẩm chất và thái độ tương ứng, nói cách khác là hình thành dần cho mình năng lực và phẩm chất nhân cách.

Cách dạy và học theo công nghệ giáo dục chính là dạy và học hướng hình thành năng lực học sinh, được thể hiện rõ trong thực tiễn triển khai các môn học ở tiểu học giai đoạn trước và đặc biệt qua môn Tiếng Việt 1 trong những năm gần đây. Qua môn Tiếng Việt lớp 1 học sinh hình thành cho mình năng lực sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) và một số phẩm chất trong nhân cách các em. Sử dụng tốt Tiếng Việt và phương pháp học tập tích cực, học sinh có thể học tốt các môn học khác và tiếp tục phát triển trong quá trình học tập về sau.

Công nghệ giáo dục ở Việt Nam có lịch sử hình thành gần 40 năm, so với phương pháp truyền thống đã có lịch sử trên 300 năm thì còn quá non trẻ nhưng đã được định hình và đang vào độ chín. Qua những bước thăng trầm và những khi gặp khó khăn công nghệ giáo dục vẫn luôn có được sự quan tâm sẻ chia từ những học sinh cũ và mới, từ các bậc cha mẹ, các bạn đồng nghiệp và các nhà quản lý.

Nhờ vậy mà công nghệ giáo dục đã có được thành tựu có giá trị đích thực đưa đến cho trẻ em. Môn Tiếng Việt lớp Một công nghệ giáo dục đang ngày càng có nhiều trẻ em 6 tuổi trên phạm vi cả nước được hưởng thụ là một ví dụ thể hiện rõ thành tựu nghiên cứu của GS Hồ Ngọc Đại và cộng sự.

PGS.TSKH Nguyễn Kế Hào

______________________

(Kỳ 2: Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục đi vào cuộc sống)

Từ khoá: kết quả khoa học công nghệ học sinh gia bão kiến thức giáo dục phát triển