tintuc5983. Tin tuc

tintuc5983. Tin tuc

Tag: cạnh tranh

Bảo hiểm cạnh tranh hút vốn ngân hàng

Tại Việt Nam, các công ty bảo hiểm rất tích cực triển khai mô hình liên kết với ngân hàng.

“Khách hàng sẽ tìm thấy sự thuận tiện, tiết kiệm được thời gian qua sự liên kết này khi thực hiện các giao dịch. Và mô hình tốt nhất cho Việt Nam là khi nhà cung cấp có thể phát triển tốt nhất cùng khách hàng của mình”, ông Nguyễn Anh Đức, Tổng giám đốc VNI nói.

Tranh thủ mạng lưới ngân hàng

article?img_id=5659650&t=1377071568669

Lâu nay, việc các ngân hàng (NH) và hệ thống công ty bảo hiểm (BH) liên kết trong các hoạt động kinh doanh, dịch vụ, theo hướng tạo nên sự thuận tiện cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ đã và đang tồn tại ổn định. Nhưng càng về cuối năm, việc bắt tay để nhằm mục đích “bán chéo sản phẩm” giữa hai định chế tài chính này trở thành mục đích mạnh mẽ hơn.

Chẳng hạn, SCB mới ký hợp tác triển khai sản phẩm liên kết NH – BH với Công ty BH nhân thọ Vietcombank Cardif (VCLI). Trước đó, thỏa thuận hợp tác giữa NHTMCP An Bình (ABBank) và Công ty BH Hàng không (VNI), Eximbank hợp tác với Prevoir Việt Nam… đều mang mục đích tương đồng. Đã có rất nhiều mô hình liên kết triển khai đạt hiệu quả cao như Bảo Việt với Agribank; Prudential có một số liên kết đối với các ngân hàng như ACB, Vietcombank để bán BH và còn liên kết với Agribank để triển khai một số dự án.

Theo một chuyên gia tài chính, xu hướng liên kết này vốn dĩ được thiết lập dựa trên nhu cầu thị trường, nhất là trong bối cảnh hiện nay, cả NH và BH đều khó khăn trong việc bán dịch vụ tài chính. Theo đó, các NH và các công ty BH đều thấy được những khoản thu với nhiều lợi ích từ việc kinh doanh thông qua kênh phân phối dựa trên các thế mạnh của nhau.

Đơn cử, như hợp đồng ký kết giữa SCB và VCLI đang tận dụng được rất nhiều lợi thế trong cung cấp các sản phẩm và dịch vụ BH tới khách hàng của SCB thông qua “dịch vụ một cửa” cho sản phẩm NH và BH. Sản phẩm tiết kiệm và BH sẽ được phân phối trên 230 điểm giao dịch trên toàn quốc của NH này.

Nhìn vào thỏa thuận giữa ABBank và VNI, cái lợi mà nhà BH có được khi tham gia các chương trình tiền gửi và đầu tư tài chính của NH là rất rõ. Tương tự, Eximbank cung cấp miễn phí cho khách hàng tiện ích BH nhân thọ với mức BH tối đa lên đến 800 triệu đồng trong suốt thời gian gửi tiền.

Theo đánh giá của nhiều khách hàng tiền gửi, sản phẩm “Tiết kiệm Phúc Bảo An” giúp người gửi tiền tối ưu hóa khả năng sinh lời của tiền nhàn rỗi hàng tháng. Nhất là những ai có thu nhập trung bình, để chuẩn bị cho những khoản chi lớn trong tương lai như: kết hôn, mua nhà, sửa nhà, mua xe, trang trải chi phí học tập của con cái, phụng dưỡng cha mẹ…

Theo ông Nguyễn Anh Đức, Tổng giám đốc VNI, thực ra, khi liên kết BH với NH, hoạt động có phần phức tạp hơn so với sự liên kết giữa các NH với nhau. Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây là mô hình này tạo môi trường thuận lợi để có thể cạnh tranh với nhau.

“Khách hàng sẽ tìm thấy sự thuận tiện, tiết kiệm được thời gian qua sự liên kết này khi thực hiện các giao dịch. Và mô hình tốt nhất cho Việt Nam là khi nhà cung cấp có thể phát triển tốt nhất cùng khách hàng của mình”, ông Đức nói. Quả thật, điều đó đang lý giải cho việc tại Việt Nam, các công ty BH rất tích cực triển khai mô hình liên kết với NH.

Cạnh tranh lãi suất với ngân hàng

Song song với việc bán chéo sản phẩm dịch vụ qua NH, các tập đoàn, công ty BH còn thể hiện sự nhanh nhạy trong việc tung ra nhiều gói sản phẩm hấp dẫn. Đồng thời họ gia tăng dịch vụ chăm sóc khách hàng bằng những chính sách lãi suất cao để hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư.

Ví như, Prudential tung ra gói sản phẩm mang tính tiện ích cực kỳ lớn là hợp đồng có kỳ hạn “Phú – Toàn Gia An Phúc”. Theo đó, ngoài những quyền lợi BH truyền thống, điểm nổi bật của sản phẩm chính là mức lãi suất được hưởng theo kết quả đầu tư của Quỹ liên kết chung. Lãi suất này luôn được Prudential đảm bảo ở mức tối thiểu là 5%/năm trong 10 năm hợp đồng đầu tiên và 3%/năm từ năm hợp đồng thứ 11 trở đi. Sau 5 năm, bắt đầu từ cuối năm hợp đồng thứ 10, người dân sẽ được hưởng thêm một khoản thưởng duy trì hợp đồng bằng 1% giá trị bình quân của giá trị tài khoản hợp đồng trong 60 tháng liền kề trước đó, nếu phí BH được đóng liên tục và đầy đủ hàng năm tính đến thời điểm xét thưởng.

Điểm cạnh tranh thứ hai được các công ty BH áp dụng hút người dân móc hầu bao rất linh hoạt với giá trị tài khoản hợp đồng. Cụ thể: người dân có thể rút một phần tiền từ giá trị tài khoản hợp đồng của mình khi có nhu cầu chi tiêu tài chính đột xuất hoặc định kỳ như chi phí học tập cho con, đi du lịch, mua xe, sửa nhà… Trong thông báo của Prudential, lãi suất đầu tư của sản phẩm “Phú – Toàn Gia An Phúc” chi trả cho người dân rất cạnh tranh: lãi suất ở mức 8,69% trong quý I/2013, quý II 8,88% và dự tính quý III lãi suất lên đến 9,06%.

Không dừng lại ở đó, các công ty kinh doanh trong lĩnh vực BH nhân thọ còn triển khai nhiều dòng sản phẩm “thời thượng” đáp ứng nhu cầu đầu tư của khách hàng như BH liên kết đầu tư. Sản phẩm này hấp dẫn vì thị trường chứng khoán đã xác định được biên độ tương đối ổn định và vẫn còn thu hút được sự quan tâm của công chúng tham gia đầu tư, BH nhân thọ cũng đã thu hút hàng triệu khách hàng tham gia BH liên kết đầu tư.

Do đó, hợp đồng liên kết đầu tư tạo kỳ vọng cho người dân cùng tham gia với các định chế tài chính đầu tư nên thu hút được nguồn tiền nhàn rỗi của một bộ phận người dân chấp nhận rủi ro tham gia đầu tư tài chính.

Ở vào thời điểm lãi suất gửi tiết kiệm tiền đồng giảm nhanh, đây là hình thức kinh doanh vốn đa mục tiêu đã phát triển ở những quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển. Các công ty BH nhân thọ cho rằng khách hàng không chỉ có nhu cầu bảo vệ, tích lũy, mà còn có nhu cầu đầu tư. Như vậy, các công ty BH nhân thọ có khả năng thu hút vốn mới, những người mong muốn có được tỷ suất sinh lợi cao hơn so với việc lấy lợi tức từ các hợp đồng tham gia chia lãi truyền thống rồi đầu tư vào các Quỹ tương hỗ.

Cũng quan điểm này, ông Phùng Đắc Lộc, Tổng thư ký Hiệp hội BH Việt Nam cho rằng, một số Công ty quản lý Quỹ, công ty BH nhân thọ khác cũng đã lên kế hoạch xây dựng để sẵn sàng nhập cuộc. “Các sản phẩm này đang chứng minh được tính hiệu quả, trước hết hoạt động kinh doanh BH nhân thọ sẽ khởi sắc trở lại thay cho diễn biến không mấy khả quan trong hai năm trở lại đây. Tương lai tiềm năng cho thị trường phái sinh này có thể chiếm tới 70 – 80% doanh thu của BH nhân thọ”, ông Lộc chia sẻ.

Từ khoá: cung cấp prudential dịch vụ kinh doanh quản lý quỹ hợp đồng phùng đắc lộc công ty bảo hiểm công ty quản lý quỹ nhu cầu liên kết chung hợp tác thị trường chứng khoán nhân thọ ngân hàng triển khai sản phẩm dịch vụ chăm sóc khách hàng việt nam chăm sóc khách hàng liên kết tổng thư ký cung cấp miễn phí thị trường vni cạnh tranh tiết kiệm kênh phân phối công ty tổng giám đốc gia bão tài chính duy trì hợp đồng dịch vụ tài chính triển khai người dân phát triển khách hàng sản phẩm đầu tư tài chính

Advertisements

Vốn ưu đãi của HDBank chảy mạnh

Liên tục các gói tín dụng ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp được đưa ra đã giúp HDBank thêm hiện tượng tăng trưởng tín dụng trong hệ thống.

Đến cuối tháng 6/2013, tăng trưởng tín dụng cho nền kinh tế ước tính mới chỉ đạt được khoảng 4,5%. Một số tổ chức tín dụng hiện vẫn tăng trưởng âm, một số ngân hàng quốc doanh lớn mới chỉ chớm dương so với cuối năm 2012.

Trong khi đó, khối ngân hàng thương mại cổ phần có nhiều thành viên tăng trưởng khá tốt, có từ 7 – 8%. Số ít như TienPhong Bank, Sacombank đạt mức cao, tương ứng 38% và 12,9%. Và theo thông tin cập nhật đến 31/7, thêm một thành viên tạo hiện tượng là HDBank với tăng trưởng tín dụng đạt 15% so với cuối 2012.

Mới đây, Ngân hàng Nhà nước mở cơ chế xem xét cho những ngân hàng thương mại có tiềm lực vốn và lành mạnh được giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cao hơn mức tối đa 15% đưa ra hồi đầu năm. Theo đó, Sacombank đang dự tính kế hoạch đạt 20% và HDBank dự kiến cao hơn với khoảng 26%.

Về tốc độ tăng trưởng tín dụng khá cao nói trên, lãnh đạo HDBank giải thích là nhờ liên tục mở các chương trình cho vay lãi suất ưu đãi, cạnh tranh trên thị trường và hướng đến các nhóm đối tượng ưu tiên.

Cụ thể, nguồn vốn được HDBank tập trung giải ngân cho các lĩnh vực như cho vay tạm trữ lúa gạo (1.500 tỷ đồng), cho vay nông nghiệp nông thôn (700 tỷ đồng), gói tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (1.000 tỷ đồng), cấp hạn mức cho các tập đoàn (1.600 tỷ đồng)… Trong đó, kế hoạch dư nợ chương trình cho vay tạm trữ lúa gạo là cao nhất, là nét mới và nổi bật của HDBank năm nay.

Theo lãnh đạo HDBank, ngay từ đầu năm ngân hàng đã dự tính hoạt động cho vay nói chung của các ngân hàng sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn; chủ động mở các gói ưu đãi, cạnh tranh lãi suất và tăng cường tiếp cận, hỗ trợ dịch vụ cho khách hàng là giải pháp chính.

Đơn cử như ở khối khách hàng cá nhân vay tiêu dùng và sản xuất kinh doanh, nối tiếp thành công của gói hỗ trợ trong năm 2012, HDBank tiếp tục dành thêm 1.000 tỷ đồng lãi suất ưu đãi. Cụ thể, khách hàng được áp dụng lãi suất 0%/năm tháng đầu tiên, cố định 11,86%/năm trong 11 tháng tiếp theo đối với khoản vay từ 500 triệu đồng trở lên; và lãi suất 0%/năm tháng đầu tiên, cố định 12,86%/năm trong 11 tháng tiếp theo đối với khoản vay từ 200 triệu đồng – dưới 500 triệu đồng.

Đó là những mức ưu đãi lãi suất dành cho khách hàng đang có nhu cầu vay vốn mua nhà, xây/sửa nhà, tiêu dùng, sản xuất kinh doanh. Chương trình được triển khai đến 31/12/2013.

Bên cạnh lãi suất, thủ tục và tiến độ giải ngân nhanh chóng, chính sách tư vấn và dịch vụ tốt là yếu tố giúp HDBank đẩy nhanh các chương trình tín dụng mới.

Một tuần sau khi tiếp cận dịch vụ cho vay của HDBank, ông Nguyễn Văn Tiến, chủ cơ sở mua bán – sản xuất ốc cẩn xà cừ Luân Tiến (quận 12, Tp.HCM) đã được giải ngân 1,9 tỷ đồng với thời hạn vay 5 năm. Ông Tiến cho biết, nhờ nguồn vốn giá rẻ kịp thời này, cơ sở của ông không chỉ duy trì hoạt động, đảm bảo việc làm, thu nhập ổn định cho công nhân trong giai đoạn khó khăn mà còn đang tính chuyện mở rộng quy mô kinh doanh trong thời gian tới.

Về gói tín dụng lãi suất thấp của HDBank, ông Tiến nói: “Đây là lần đầu tiên tôi vay vốn của HDBank nhưng cảm thấy rất hài lòng về chất lượng dịch vụ. Các nhân viên của ngân hàng tư vấn, hướng dẫn làm thủ tục rõ ràng, minh bạch. Đặc biệt, HDBank ưu đãi lãi suất một cách thực chất, trong một khoảng thời gian đủ dài để chúng tôi dễ tính toán và chủ động trong kinh doanh”.

Hay tại doanh nghiệp tư nhân Trang Trịnh ở Tây Ninh, HDBank vừa giải ngân 1 tỷ đồng để bổ sung vốn kinh doanh gas chỉ trong một ngày sau khi hoàn tất các thủ tục. Bà Trịnh Thu Trang, chủ doanh nghiệp, cho rằng, bên cạnh thu tục nhanh chóng, chính sách lãi suất tốt mà HDBank đang triển khai không chỉ là cơ hội tạo nguồn vốn giá rẻ, còn thể hiện sự chia sẻ thiết thực và kịp thời của ngân hàng với những khó khăn của khách hàng mình.

Với HDBank, lãi suất ưu đãi và cạnh tranh đi cùng với lợi nhuận ở mỗi món vay hạn chế đi, nhưng tổng lượng tín dụng lại đạt được mức cao, cũng như thị phần cho vay được mở rộng. Mặt khác, lãnh đạo ngân hàng này cho rằng, khi nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, ưu tiên hàng đầu là tiếp vốn kịp thời với chi phí thấp, tạo sự hỗ trợ cần thiết để cùng mục tiêu hồi phục hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung.

Từ khoá: chất lượng dịch vụ tăng trưởng khó khăn khách hàng dịch vụ cạnh tranh thủ tục nền kinh tế kinh doanh doanh nghiệp tín dụng khách hàng cá nhân ngân hàng doanh nghiệp tư nhân

Tự gặm chân phải biết cách

Tự tước đoạt doanh thu (cannibalization) xảy ra khi doanh nghiệp giảm doanh số hoặc thị phần sản phẩm hiện tại của họ do tung ra sản phẩm mới tương tự. Ở những lĩnh vực có tốc độ cải tiến và đổi mới nhanh chóng như công nghệ, các hãng đều phải liên tục tung ra sản phẩm mới, chấp nhận cannibalization để có thể tiếp tục cạnh tranh. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là liệu các sản phẩm đó có giúp họ đạt được doanh số, thị phần hay những mục tiêu khác như kỳ vọng hay không.

Apple (Mỹ) là một hãng công nghệ thực hiện cannibalization có kiểm soát và thành công. Trong cuộc họp cổ đông gần đây, CEO Tim Cook của Hãng đã chia sẻ triết lý của Apple trong việc giới thiệu các sản phẩm mới.

“Việc các sản phẩm tương tự làm mất thị phần của nhau là một cơ hội lớn cho chúng tôi. Triết lý cốt lõi của Apple là không bao giờ sợ sản phẩm tự cạnh tranh nhau. Nếu chúng ta không làm điều đó thì người khác cũng sẽ làm. Chúng tôi biết iPhone đã tranh mất một mảng thị phần của iPod, điều đó không làm chúng tôi lo lắng. Chúng tôi cũng biết rằng iPad sẽ khiến việc kinh doanh một vài mẫu máy tính Mac bị giảm đi, nhưng đó cũng không phải là mối quan ngại”, ông nói.

Lấy ví dụ của chiếc iPad, Tim Cook cho rằng việc chiếc máy tính bảng này ra đời đã tạo cho Apple có cơ hội dẫn đầu một mảng trước đây có rất ít hãng tham gia. Khi thị trường máy tính dùng Windows (hệ điều hành của Microsoft) lớn hơn nhiều so với thị trường của máy Mac, việc Apple hy sinh một phần doanh thu từ mảng máy tính để tham gia vào lĩnh vực máy tính bảng là hoàn toàn xứng đáng.

Cũng theo Tim Cook, nếu có ai đó mua iPad mini hoặc iPad và nếu đây là sản phẩm Apple đầu tiên của họ, một số trong những người này sẽ tiếp tục mua các sản phẩm khác của hãng. Trong lịch sử của Apple, điều tương tự từng diễn ra khi máy nghe nhạc iPod ra đời đã ảnh hưởng tích cực đến doanh số máy Mac.

Hiện tượng cannibalization cũng diễn ra phổ biến trong các công ty kinh doanh nhiều dòng sản phẩm tương tự. Tuy nhiên, đó thường là con dao 2 lưỡi. Bên cạnh việc mở rộng thị phần cho công ty, sản phẩm mới còn có thể cạnh tranh trực tiếp với các dòng sản phẩm cũ, thậm chí làm thay đổi hoàn toàn nhu cầu của thị trường khiến sản phẩm cũ bị mất chỗ đứng.

Một ví dụ kinh điển cho trường hợp này là việc Coca-Cola tung ra dòng sản phẩm Diet Coke, sau đó là Coke Zero ít đường với ý định nhắm vào đối tượng quan tâm đến sức khỏe. Hai sản phẩm này tuy đã mở ra một thị trường mới cho Coca-Cola nhưng vẫn liên tục gặm mất khá nhiều doanh số của sản phẩm nước ngọt truyền thống vì người tiêu dùng ngày càng sợ bị béo phì. Dù vậy, vẫn có những đơn vị biết tận dụng cannibalization một cách thông minh để đem về lợi nhuận khổng lồ.

Gillette là thương hiệu chăm sóc sắc đẹp dành cho nam thuộc Tập đoàn P&G. Một trong những sản phẩm nổi tiếng của họ là dao cạo râu Mach 3 đã chiếm lĩnh thị trường toàn cầu gần một thập kỷ. Tuy nhiên, khi dao cạo Fusion ProGlide được tung ra thị trường, thay vì đẩy mạnh marketing để tìm kiếm thêm khách hàng, thương hiệu này lại kêu gọi khách hàng hiện hữu thay thế Mach 3 bằng Fusion ProGlide. Điều này đồng nghĩa với việc Gillette chủ động cho doanh số sản phẩm mới ăn hết phần của sản phẩm cũ.

Chiến lược này thành công đến nỗi Fusion ProGlide chỉ mất có 2 năm để đạt đến cột mốc 1 tỉ USD doanh thu, nhanh nhất trong lịch sử tất cả các nhãn hàng của P&G và hiện là sản phẩm dao cạo râu bán chạy nhất thế giới. Và tất cả đều nhờ vào chiến dịch truyền thông cực kỳ thuyết phục đã khiến cho hầu hết nam giới đang dùng Mach 3 ở Anh và Bắc Mỹ quyết định đổi sang dùng Fusion ProGlide, cho dù loại dao cạo mới có giá đắt hơn 40% so với sản phẩm cũ.

Có thể thấy, các nhà sản xuất đều tính toán kỹ về khả năng doanh số sản phẩm mới ăn vào doanh số sản phẩm cũ cùng loại. Từ đó, họ lên kế hoạch cho chu kỳ ra sản phẩm mới và chiến lược định giá phù hợp miễn sao cho doanh thu tăng. Bằng không, việc tung ra sản phẩm mới ào ạt không kiểm soát sẽ để lại hậu quả khôn lường.

Cách đây vài năm, Nokia (Phần Lan) và Samsung (Hàn Quốc) từng đấu tay đôi với nhau trên thị trường Việt Nam. Hãng Nokia khi đó cứ vài tháng lại tung ra hàng chục dòng máy mới từ cao cấp cho đến bình dân. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các sản phẩm cùng phân khúc lại không rõ ràng, chưa có sự đột phá về công nghệ dẫn đến việc khách hàng bối rối và ngần ngại khi quyết định mua máy mới. Trong khi đó, dù đi sau và cũng cho ra đời hàng loạt mẫu điện thoại đủ mọi phân khúc nhưng Samsung lại có kết quả kinh doanh khả quan hơn vì những thay đổi về công nghệ trong các sản phẩm mới là tương đối rõ ràng, thu hút được sự quan tâm của thị trường. Ngày nay, Samsung đã thế chỗ Nokia trở thành nhà sản xuất điện thoại di động dẫn đầu không chỉ tại Việt Nam mà còn cả trên thế giới.

Từ khoá: máy tính khách hàng doanh thu thị phần máy tính bảng người tiêu dùng thị trường mới sản phẩm sản phẩm mới cạnh tranh thị trường kinh doanh hệ điều hành công nghệ thị trường việt nam

Máy bay J-31 sẽ vĩnh viễn không được đưa vào trang bị của Trung Quốc?

(GDVN) – Có lẽ, người ta sẽ không nhìn thấy J-31 có trong biên chế của Quân đội Trung Quốc trong tương lai như JF-17, vì không phải là chương trình quốc gia.

Máy bay chiến đấu J-31 Trung Quốc

Tờ “Hoàn Cầu” Trung Quốc ngày 17 tháng 7 có bài viết cho rằng, ngày 31 tháng 10 năm 2012, máy bay chiến đấu J-31 Cốt Ưng đã lần đầu tiên bay thử thành công, Công ty TNHH Tập đoàn công nghiệp máy bay Thẩm Dương cuối cùng đã không còn phải mang cái mác “chỉ tồn tại nhờ sao chép máy bay chiến đấu Sukhoi của Nga”.

Bài báo cho rằng, công ty này tiếp tục chứng minh năng lực của họ nhờ máy bay chiến đấu hải quân J-15 hoàn thành cất/hạ cánh trên tàu sân bay Liêu Ninh.

Theo bài báo, có thể sẽ rất nhiều người mong đợi máy bay chiến đấu J-31 sẽ sớm đi vào hoạt động, nhưng điều gây thất vọng là, có lẽ máy bay chiến đấu J-31 vĩnh viễn sẽ không xuất hiện trong danh sách trang bị của Quân đội Trung Quốc, bởi vì máy bay chiến đấu J-31 Cốt Ưng hoàn toàn không phải chương trình quốc gia.

Nói cách khác, đây là chương trình doanh nghiệp của Công ty Máy bay Thẩm Dương và Tập đoàn công nghiệp hàng không Trung Quốc. Giống như máy bay chiến đấu xuất khẩu FC-1 Kiêu Long, nhà nước TQ không phê duyệt, cũng không đầu tư, đương nhiên cũng không phải mua, tất cả những rủi ro thị trường sẽ do Công ty Máy bay Thẩm Dương và Tập đoàn công nghiệp hàng không Trung Quốc gánh chịu.

Theo quan điểm trong một cuốn sách của Viện sĩ Lý thiên, Viện 601 (Viện nghiên cứu máy bay Thẩm Dương), lai lịch của máy bay chiến đấu J-31 Cốt Ưng được giải thích rất rõ ràng. “Cuối tháng 10 năm 2007, Bộ tổng Trang bị chính thức gửi công văn tuyên bố phương án của Viện 601 (Viện nghiên cứu máy bay Thành Đô) chiến thắng, đồng thời lấy Viện 611 làm chính, Viện 601 tham gia, cùng lập thành đội quốc gia tiến hành hợp tác nghiên cứu chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ mới (máy bay chiến đấu J-20)”.

Máy bay chiến đấu tàng hình J-31 Trung Quốc

Theo ông Lý Thiên: “… Khi đó lãnh đạo cân nhắc không nên vì vậy mà chấm dứt công tác nghiên cứu đối với máy bay mới, xét đến sự phát triển trong tương lai và nâng cao sức cạnh tranh cốt lõi, để rèn luyện đội ngũ và đào tạo nguồn nhân lực thì cần quyết tâm nắm chắc công nghệ mới.

Do đó, quyết định tự bỏ vốn phát triển một chương trình mới (máy bay chiến đấu AMF Cốt Ưng)… Lý Thiên phụ trách toàn diện công tác kỹ thuật”.

Trên thực tế, doanh nghiệp tự bỏ vốn nghiên cứu chế tạo máy bay chiến đấu đang trở thành một một xu hướng của Công nghiệp hàng không Trung Quốc, ngoài máy bay chiến đấu Cốt Ưng và Kiêu Long, máy bay huấn luyện L-15 cũng do doanh nghiệp tự bỏ vốn nghiên cứu chế tạo.

Hiện nay, Công ty Máy bay Thành Đô cũng đang tự bỏ vốn nghiên cứu chế tạo một loại máy bay chiến đấu đa năng xuất khẩu mới. Như vậy, điều này phản ánh thực lực vốn cả các doanh nghiệp hàng không Trung Quốc đã rất mạnh.

Ngoài các công trình được quốc gia phê chuẩn như máy bay chiến đấu J-20, máy bay vận tải cỡ lớn Y-20, máy bay trực thăng Z-20 và máy bay ném bom tàng hình mới, Công nghiệp hàng không Trung Quốc đang dùng thực lực vốn của họ để thúc đẩy công việc nghiên cứu chế tạo vũ khí trang bị, trước đây mấy chục năm thì đây là điều không thể tưởng tượng.

Máy bay chiến đấu J-31

Mặc dù không được Nhà nước đầu tư, Viện 601 cũng quyết định chấp nhận rủi ro, tự bỏ tiền ra nghiên cứu chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ mới. Việc làm này đã được Công nghiệp hàng không Trung Quốc ra sức ủng hộ, một mặt, điều này liên quan đến chiến lược lớn phát triển sản phẩm hàng không của Công nghiệp hàng không Trung Quốc, liên quan đến cạnh tranh của sản phẩm hàng không quân dụng Trung Quốc trong mấy chục năm tới trên phạm vi thế giới; mặt khác, thúc đẩy cuộc cạnh tranh giữa các sản phẩm của các viện nghiên cứu hàng không trong nội bộ mới là con đường phát triển tốt. Theo bài báo, Công nghiệp hàng không Trung Quốc đưa ra quyết định như vậy là thích đáng và sáng suốt.

Điều quan trọng hơn là, cùng với sự tăng trưởng của sức mạnh quốc gia Trung Quốc, việc đầu tư cho các chương trình “ngoài kế hoạch” là có khả năng. Trước đây, do sức mạnh quốc gia có hạn, vốn dành cho các chương trình đã được phê duyệt đã rất khó khăn, càng không thể nói là chương trình “ngoài biên chế”.

Chi phí nghiên cứu chế tạo máy bay chiến đấu, đặc biệt là máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư rất cao, kinh phí nghiên cứu chế tạo máy bay chiến đấu F-22 và F-35 của Mỹ đều có giá trên trời – vài chục tỷ USD, không có sự hỗ trợ vốn khổng lồ, thì chỉ có quyết tâm cũng đành chịu.

Máy bay chiến đấu tàng hình J-31 do Trung Quốc nghiên cứu chế tạo
  • Hoàn Cầu: “Việt Nam nhập radar chống tàng hình triển khai ở Biển Đông”
  • Tân Hoa Xã: Việt Nam chọn giải pháp mua tàu ngầm của Nga
  • Đông Bắc Á diễn tập dồn dập, Nhật Bản -Trung Quốc sẵn sàng chiến đấu
  • Trung Quốc sẽ tấn công đảo Đài Loan năm 2017?
  • Philippines sẽ rắn mặt hơn với Trung Quốc ở Biển Đông
  • Hệ thống dẫn đường GPS nâng cấp bỏ xa hệ thống Bắc Đẩu Trung Quốc
  • Nga bắt đầu sử dụng tổ hợp máy phóng mô phỏng tàu sân bay NITKA
  • Syria có ít nhất 25 lữ đoàn phòng không, 150 dàn tên lửa
  • Hoàn Cầu: Philippines tập hợp biểu tình chống TQ trên toàn cầu
  • Cảnh lắp tên lửa chống hạm cực mạnh trên máy bay ném bom B-1 của Mỹ

Từ khoá: tập đoàn hàng không bão sản phẩm công ty cạnh tranh trung quốc quyết định máy bay nghiên cứu doanh nghiệp phát triển gia

Bảo hiểm phi nhân thọ: Cái khó ló cái khôn

(ĐTCK) Khó khăn của nền kinh tế những năm qua đã có ảnh hưởng rõ nét đến tốc độ tăng trưởng của thị trường bảo hiểm. Nếu như tốc độ tăng trưởng theo năm bình quân của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong khoảng 5 năm trước đây đều đạt trên 20% thì trong năm 2012 chỉ còn 9,4%.

Thay tướng và điều chỉnh chiến lược

Nhìn nhận khó khăn sẽ còn tiếp diễn, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đã điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng, thậm chí điều chỉnh cả chiến lược hoạt động. Trường hợp Bảo hiểm BIDV (BIC) là một ví dụ. Ban đầu, BIC đặt kế hoạch trong giai đoạn 2012 – 2013, Công ty sẽ thực hiện tăng vốn lên 850 tỷ đồng thông qua việc phát hành thêm cổ phiếu cho đối tác chiến lược và giai đoạn 2014 – 2015 sẽ tăng vốn lên trên 1.500 tỷ đồng. Tuy nhiên, do kinh tế khó khăn, thị trường chứng khoán không ổn định, nên việc tìm kiếm đối tác chiến lược trong năm qua và đầu năm nay không thuận lợi. Vì vậy, HĐQT đã chủ động tạm hoãn việc tìm kiếm đối tác chiến lược, chuyển hướng tập trung vào việc tăng và nhận chuyển nhượng vốn góp từ 2 liên doanh tại Lào và Campuchia. Đến thời điểm hiện tại, việc tái cấu trúc tại BIC vẫn đang được triển khai, tuy nhiên, tiến độ thực hiện có thể sẽ chậm hơn lộ trình đã được ĐHCĐ phê duyệt. Trước những dự báo môi trường kinh doanh vẫn còn nhiều khó khăn, bất ổn và khó lường, mục tiêu tăng trưởng nhanh trong giai đoạn này là không phù hợp, BIC định hướng năm 2013 chỉ phấn đấu tăng trưởng doanh thu cao hơn bình quân thị trường để giữ thị phần; lợi nhuận tăng trưởng khoảng 10% so với 2012 “.

Liberty nhận định, thời kỳ tăng trưởng 60 – 70%/năm đã trở thành dĩ vãng

Thể hiện quyết tâm thay đổi, một số doanh nghiệp đã “thay tướng” ngay trong những tháng đầu năm 2013. Tại buổi chuyển giao quyền lực, bà Đỗ Thị Kim Liên, người sáng lập Bảo hiểm AAA nói rằng, trong giai đoạn phát triển tiếp theo, để đạt được những mục tiêu đã đặt ra, trở thành công ty bảo hiểm được tôn trọng nhất tại Việt Nam, Bảo hiểm AAA cần phải chuyên nghiệp hơn trong hoạt động của mình. Và cách duy nhất để Bảo hiểm AAA có thể làm lúc này là thay đổi.

Cùng với Bảo hiểm AAA, cả PJICO và Viễn Đông khi thay đổi CEO đều gắn với chiến lược tái cơ cấu mạnh mẽ. Bảo hiểm Viễn Đông trước khi có CEO mới cũng đã có một cuộc cải tổ với sự tham gia góp vốn đầu tư của cổ đông mới là Bamboo Capital. Trong khi đó, cùng với quyết định thay đổi nhân sự cấp cao, PJICO cũng đã thực hiện lấy ý kiến cổ đông về việc tái cơ cấu và nâng cấp PJICO thành Tổng CTCP Bảo hiểm Petrolimex. PJICO do Petrolimex nắm giữ trên 50% vốn điều lệ (Công ty có 709 tỷ đồng vốn điều lệ) và là doanh nghiệp thành viên của tập đoàn này.

Đại diện Bảo hiểm Liberty cho biết, thời kỳ tăng trưởng 60 – 70% đã xa rời, không doanh nghiệp nào còn dám đưa ra mục tiêu tăng trưởng tham vọng và Liberty cũng không ngoại lệ.

“Khó khăn buộc các doanh nghiệp bảo hiểm phải thực tế hơn trong việc thiết lập các chỉ tiêu kinh doanh, chứ không thể tiếp tục tuyển dụng đại lý ồ ạt, chi tiền phóng khoáng cho các chương trình thu hút khách hàng…”, đại diện Liberty nói.

Quyết tâm lãi nghiệp vụ

Thực tế, không chỉ những doanh nghiệp bảo hiểm quy mô nhỏ và doanh nghiệp mới gia nhập thị trường mới phải vật lộn với khó khăn kinh tế và cạnh tranh khốc liệt, các doanh nghiệp bảo hiểm lớn cũng không ngoại lệ. Với quan điểm phát triển thận trọng, năm 2013, Bảo hiểm Bảo Việt chỉ đặt mục tiêu tổng doanh thu 6.739 tỷ đồng, tăng 5,3% so với năm 2012; lợi nhuận trước thuế 497 tỷ đồng, tăng 10,1% so với năm 2012.

Trong khi đó, kiên định với mục tiêu chiến lược đã đề ra là “Hiệu quả và phát triển bền vững”, Bảo Minh tiếp tục tiến hành tái cơ cấu và triển khai các giải pháp để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, tập trung vào các địa bàn trọng tâm, trọng điểm, các nghiệp vụ kinh doanh có hiệu quả… Mục tiêu doanh thu bảo hiểm gốc năm 2013 của Công ty khá khiêm tốn, chỉ tăng trưởng khoảng 8 – 10% so với năm 2012. Trong kế hoạch kinh doanh năm 2013, Công ty sẽ tập trung khai thác các dịch vụ mang lại lợi nhuận như các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật, bảo hiểm xe gắn máy… Bảo Minh cho biết, Công ty sẽ tiếp tục đẩy nhanh việc phục hồi và mở rộng kênh phân phối trực tiếp tại các quận, huyện và qua đại lý tại các địa bàn trọng tâm như: TP. HCM, Hà Nội, Đồng Nai và Bình Dương để bán các sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm con người, tài sản kỹ thuật và hàng hóa… Ngoài ra, năm 2013, Bảo Minh sẽ tăng cường các biện pháp giảm chi phí kinh doanh, bao gồm việc xiết chặt hơn các công ty thành viên yếu kém có 2 năm lỗ liên tục bằng các giải pháp hạn chế khai thác nghiệp vụ xấu, giảm nhân sự gián tiếp… đảm bảo các đơn vị này chỉ như phòng đại diện kinh doanh, doanh thu có thể thấp, nhưng không làm lỗ cho Tổng công ty.

Trải qua năm 2012 đầy khó khăn, nhưng PTI vẫn đạt được kết quả kinh doanh khả quan. Tổng doanh thu bảo hiểm gốc đạt 1.480 tỷ đồng, bằng 103% kế hoạch; lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư đạt 103 tỷ đồng, bằng 126% kế hoạch và tỷ lệ chia cổ tức ở mức 11%. Kênh bán hàng Vnpost cũng đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng, tăng 57,5%, đạt 302 tỷ đồng. Tuy nhiên, đứng trước những khó khăn phía trước của nền kinh tế, ông Nguyễn Trường Giang, Tổng giám đốc PTI cho biết, năm 2013, PTI xây dựng định hướng kinh doanh theo hướng tiếp tục tăng trưởng, tuy nhiên, tập trung nguồn lực vào việc tăng cường hiệu quả bảo hiểm gốc, trong đó, ưu tiên việc kiểm soát bồi thường, rà soát và loại bỏ một số garage liên kết không đảm bảo chất lượng. Năm 2013, PTI đặt mục kinh doanh bảo hiểm 1.523 tỷ đồng, trong đó, doanh thu qua kênh Vnpost đạt 358 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2012; phấn đấu đạt 6,1% thị phần.

Trao đổi với ĐTCK, đại diện một số công ty bảo hiểm phi nhân thọ cho rằng, dù còn triển vọng, nhưng kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ những năm gần đây và có thể những năm tới sẽ không còn “dễ thở” như thời kỳ tăng trưởng vàng. Cùng với những khó khăn chung của thị trường là tình hình cạnh tranh khốc liệt, trục lợi bảo hiểm gia tăng, khách hàng ngày càng khó tính…, bản thân các công ty bảo hiểm phi nhân thọ, đặc biệt là những công ty nhóm dưới còn có những vấn đề của riêng mình, như áp lực không thể tiếp tục lỗ. Trong khi đó, các công ty bảo hiểm lớn cũng phải hoạt động hiệu quả hơn để có thể tồn tại trong nhóm 1 theo cách phân loại các doanh nghiệp bảo hiểm (phải có lãi nghiệp vụ). Năm 2012, để có lãi nghiệp vụ, một số doanh nghiệp bảo hiểm đã phải chi bồi thường từ quỹ dự phòng. Năm nay được đánh giá sẽ tiếp tục khó khăn, nên nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đã chuyển hướng sản phẩm sang bảo hiểm tài sản cá nhân, bảo hiểm sức khỏe và y tế, bảo hiểm trách nhiệm, bảo hiểm tài chính tín dụng… Ngoài ra, các doanh nghiệp trong khối này cũng sẽ phải tập trung hơn cho công tác quản lý rủi ro, tăng cường bảo vệ khách hàng, mở rộng, củng cố mạng lưới và gia tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm.

Từ khoá: bảo hiểm gốc bảo hiểm aaa gia đối tác sản phẩm bảo hiểm nghiệp vụ bảo hiểm nghiệp vụ bảo hiểm tài sản phát triển bảo hiểm xe cơ giới công ty bảo hiểm pjico doanh nghiệp chi bồi thường chiến lược liberty bảo hiểm petrolimex bảo hiểm trách nhiệm bảo minh trục lợi bảo hiểm bảo hiểm viễn đông doanh nghiệp bảo hiểm tái cấu trúc bảo hiểm bidv bảo hiểm bảo việt aaa kênh phân phối sản phẩm thị trường chứng khoán bảo hiểm phi nhân thọ doanh thu kinh doanh bảo hiểm nền kinh tế bảo hiểm con người phi nhân thọ doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đối tác chiến lược thị trường kế hoạch bảo hiểm đỗ thị kim liên tổng giám đốc bic bảo hiểm tài sản tăng trưởng nhân thọ quỹ dự phòng kỹ thuật bảo hiểm bảo hiểm xe công ty vụ bảo hiểm trách nhiệm bảo hiểm doanh thu bảo hiểm kinh doanh vốn điều lệ công ty bảo hiểm phi nhân thọ cạnh tranh bão lợi nhuận khách hàng bảo hiểm sức khỏe thay đổi khó khăn pti bảo hiểm liberty hiệu quả tài sản thị trường mới môi trường kinh doanh kinh tế tăng trưởng doanh thu doanh thu bảo hiểm gốc thị trường bảo hiểm

Công nghệ thông tin là nền tảng của phương thức phát triển mới

(VnMedia) – Diễn đàn Cấp cao CNTT và Truyền thông Việt Nam 2013 (Vietnam ICT Summit 2013) đã chính thức khai mạc vào sáng nay (20/6) tại Hà Nội. Sự kiện nhằm “mổ xẻ”, tìm ra giải pháp để CNTT trở thành nền tảng phát triển mới, nâng cao năng lực cạnh tranh toàn diện của Việt Nam.Diễn đàn năm nay đã thu hút 500 đại biểu là lãnh đạo và cán bộ quản lý cấp cao của các bộ, ngành, các cơ quan nhà nước, các tập đoàn, các đơn vị ứng dụng CNTT. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và cựu Thủ tướng Nhật Bản Yukio Hatoyama là khách mời đặc biệt của Diễn đàn.Phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao sáng kiến của VINASA tổ chức thường niên sự kiện này. Sau hai năm tổ chức, Diễn đàn đã tạo được uy tín lớn, đã đề xuất được những khuyến nghị có giá trị vào việc xây dựng chủ trương, chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực CNTT-TT. Với chủ đề “CNTT – nền tảng của phương thức phát triển mới, nâng cao toàn diện năng lực cạnh tranh quốc gia”, diễn đàn năm nay bàn về việc phát huy vai trò của CNTT trong nâng cao năng lực cạnh tranh, tập trung vào các vấn đề xây dựng hạ tầng thông tin quốc gia, cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và đẩy mạnh cải cách giáo dục và đào tạo. Đây là các vấn đề đang được chính phủ đặc biệt quan tâm giải quyết. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn.Hơn 10 năm qua CNTT là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp 7% GDP của đất nước, góp phần lan tỏa nhiều ngành kinh tế phát triển. Lần đầu tiên, Việt Nam đã có vị trí trên bản đồ CNTT thế giới, mức độ triển khai Chính phủ điện tử vươn lên thứ 4 trong các quốc gia Đông Nam Á. Theo kết quả khảo sát của UNESCO Liên hợp quốc, năm 2012, Việt Nam xếp thứ 83 trên tổng số 190 quốc gia được thực hiện đánh giá. Với kết quả này Việt Nam tăng 7 bậc so với năm 2010.Từ thực tiễn đó, cần khẳng định rằng, CNTT là trục kết nối chính, là yếu tố có ảnh hưởng quyết định để góp phần thực hiện thành công 3 đột phá chiến lược gồm hoàn thiện thể chế phát triển nguồn nhân lực, xây dựng hạ tầng đồng bộ gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định.Nếu như thập kỷ cuối thế kỷ 20, CNTT đã đưa Việt Nam phát triển một cách nhanh chóng, đóng góp vào sự đổi mới của đất nước thì thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, CNTT đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn có tốc độ phát triển nhanh nhất so với các ngành kinh tế và có giá trị lan toản, ảnh hưởng tích cực đến mọi mặt kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng. Mở ra một giai đoạn mới khi CNTT gắn chặt với cạnh tranh quốc gia đưa Việt Nam tiến vào kinh tế tri thức, đưa Việt Nam vượt ngưỡng trung bình thấp.Cựu Thủ tường Nhật Bản Yukio Hatoyama.Hiện Việt Nam đang trải nghiệm tăng trưởng kinh tế cao, nhưng chưa bền vững, chỉ số cạnh tranh còn thua kém so với các nước trong khu vực. Do đó, để giải quyết vấn đề này, Cựu Thủ tường Nhật Bản Yukio Hatoyama cho rằng, Việt Nam nên tiến vào chiến lược “Việt Nam điện tử” hướng đến một hạ tầng CNTT sẵn sàng và chiến lược “u- Việt Nam” tiến tới xây dựng xã hội mạng phổ cập, phổ quát mọi nơi. Ông cũng khuyến nghị, điều quan trọng nhất để thực hiện được chiến lược này chính là đào tạo số lớn kỹ sư CNTT-TT. Điều này sẽ hết sức quan trọng cho cả tương lai phát triển của Việt Nam cũng như để cho các công dân được tận hưởng phong cách sống tiện nghi thoải mái.Ngoài phiên thảo luận chính, Vietnam ICT Summit 2013 còn 4 phiên tọa đàm tập trung vào 4 trụ cột chính để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, gồm Hạ tầng thông tin quốc gia – Vấn dề và giải pháp; CNTT – Cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh vĩ mô; CNTT – Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; CNTT – Cải cách đào tạo đại học. 7 nhiệm vụ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo các lãnh đạo Bộ, Ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu tại Vietnam ICT Summit 2013.- Nâng cao nhận thức, quán triệt quan điểm CNTT là một nền tảng của phương thức phát triển mới trong các cấp quản lý, các ngành kinh tế xã hội, trong mỗi doanh nghiệp và toàn xã hội. Phát triển và ứng dụng CNTT trong sản xuất kinh doanh và quản lý hướng tới mục tiêu nâng cao cạnh tranh quốc gia, coi đây là con đường ngắn nhất để Việt Nam tiến kịp các nước, tiến cùng thời đại.- Hai là, Xây dựng hạ tầng quốc gia, xây dựng hệ thống hạ tầng thông tin quốc gia, ban hành chuẩn thông tin quốc gia, bảo đảm an ninh, kết nối liên thông, đồng bộ, chú trọng công tác an ninh, an toàn, bảo mật thông tin quốc gia.- Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, làm chủ các bí quyết, giải pháp công nghệ mới, ưu tiên đào tạo phát triển nguồn nhân lực CNTT của từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương doanh nghiệp và của cả quốc gia.- Xây dựng cơ chế chính sách, tạo thuận lợi và hiệu quả cao nhất nhằm đảm bảo ứng dụng CNTT trở thành một yêu cầu tiên quyết trong mọi ngành, mọi lĩnh vực, mọi công trình, dự án đầu tư trong tiến trình phát triển.- Tạo môi trường thuận lợi cho phát triển thị trường CNTT, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển, tạo thị trường vững chắc trên thị trường trong nước và xây dựng năng lực cạnh tranh vươn ra thị trường ngoài nước.- Tăng cường hợp tác quốc tế, huy động mọi nguồn lực đặc biệt là nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài để phát triển CNTT.- Phát triển và ứng dụng CNTT được coi là nhiệm vụ quan trọng của toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội. Người đứng đầu tất cả các cấp các ngành, các cơ quan, đơn vị phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về triển khai ứng dụng hiệu quả CNTT vì mục tiêu phát triển nhanh và bền vững.Tuệ Minh

Từ khoá: đào tạo thông tin gia thủ tướng xây dựng doanh nghiệp cạnh tranh giải pháp thị trường nhật bản kinh tế bảo mật thông tin quan trọng nguyễn tấn dũng phát triển thị trường nền kinh tế việt nam chiến lược cải cách bão phát triển

Bảo hiểm Việt mang chuông đi đánh xứ người

(ĐTCK) Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, xu hướng đầu tư ra nước ngoài để mở rộng thị trường của các DN Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng, đặc biệt khi môi trường kinh doanh trong nước ngày càng chật chội.

Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, trong quý I/2013, các DN Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 2,65 tỷ USD. Trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, điều này cũng không phải ngoại lệ.

Lào: miền đất hứa

Trong lĩnh vực bảo hiểm, Việt Nam có hai DN tiên phong khai thác thị trường Lào là BIC (từ năm 2008 với Liên doanh LVI giữa BIC cùng Ngân hàng Liên doanh Lào Việt và Ngân hàng Ngoại thương Lào) và PTI (từ năm 2010 với Công ty Bảo hiểm Lane Xang giữa PTI và Ngân hàng Phát triển Lào).

LVI hiện là công ty bảo hiểm đứng thứ 2 thị trường Lào về thị phần và được đánh giá là thương hiệu bảo hiểm được yêu thích nhất tại nước này. Doanh thu bảo hiểm của LVI liên tục tăng trưởng qua các năm. Đặc biệt, 2012 là năm LVI hết lỗ lũy kế, tỷ suất sinh lời trên vốn đạt xấp xỉ 18%, dự kiến bắt đầu chia lợi tức từ năm 2013. Cùng với những thành công ban đầu rất ấn tượng của LVI tại Lào, mới đây, BIC đã trình văn bản xin Bộ Tài chính phê duyệt phương án tăng tỷ lệ sở hữu tại LVI. Theo đó, BIC sẽ nhận chuyển nhượng vốn góp của Ngân hàng Liên doanh Lào Việt (LVB), tương đương 14% vốn điều lệ của LVI để tăng tỷ lệ nắm giữ vốn tại LVI từ 51% lên 65%. Với việc tăng tỷ lệ sở hữu trong LVI, BIC sẽ có thể thực hiện tham vọng chính thức tiếp cận thị trường nước bạn, chủ động khai phá tiềm năng của thị trường này sau 4 năm tham gia quản lý, điều hành.

BIC là DN bảo hiểm Việt Nam đầu tiên đặt chân vào thị trường Lào

Cùng với BIC, PTI cũng cho biết, 2012 là một năm thành công tại Lào của Công ty Bảo hiểm Lane Xang. Hiện nay, Bảo hiểm Lane Xang là DN bảo hiểm có tốc độ tăng trưởng cao nhất tại Lào. Bắt đầu từ năm 2012, với chiến lược kinh doanh của mình, Bảo hiểm Lane Xang đã có bước đột phá về doanh thu cũng như về số lượng đại lý và nhân sự. Cụ thể, doanh thu của Lane Xang tăng gấp 4,3 lần (tăng trưởng 330%) so với năm 2011 và kế hoạch năm 2013, tốc độ tăng trưởng được xác định là 250%. Cùng với đó, số lượng đại lý đã tăng lên gấp 5 lần, nhân viên tăng gấp 2 lần.

Bắt đầu từ năm 2012, Bảo hiểm Lane Xang bước vào giai đoạn 2 của việc hợp tác với 18 chi nhánh trực thuộc Ngân hàng Phát triển Lào và 17 bưu điện tỉnh của Quốc doanh Bưu chính Lào (EPL) trên toàn lãnh thổ Lào để cung cấp các sản phẩm bảo hiểm tài sản, xây dựng, con người đến với người dân nước này.

Theo ông Lại Mạnh Quân, Tổng giám đốc Bảo hiểm Lane Xang, thị trường Lào tuy nhỏ nhưng có nhiều tiềm năng, đặc biệt là mảng bảo hiểm con người và bảo hiểm vật chất xe cơ giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Lào cao nên sẽ là cơ hội cho các DN bảo hiểm triển khai sản phẩm bảo hiểm công trình xây dựng, tài sản, trách nhiệm… Bên cạnh đó, thị trường bảo hiểm của Lào còn khá xa lạ với với khái niệm “Bancasurance”, nên việc hợp tác với các ngân hàng của các DN bảo hiểm còn bỏ ngỏ. Đây sẽ là cơ hội và cũng là thách thức cho các DN bảo hiểm tiếp cận với các ngân hàng. DN bảo hiểm nào có đủ nhân sự và khả năng triển khai trên hệ thống rộng sẽ có nhiều lợi thế trong việc hợp tác với ngân hàng cung cấp các sản phẩm bảo hiểm cho khách hàng.

Ông Quân cho biết, năm 2013 sẽ là năm bản lề để Bảo hiểm Lane Xang cất cánh trở thành DN bảo hiểm bán lẻ hàng đầu tại Lào, với số lượng đại lý lên đến 200 người trải dài trên tất cả 17/17 tỉnh của Lào để phục vụ khách hàng tham gia bảo hiểm cũng như giải quyết bồi thường. Trong quý I/2013, Bảo hiểm Lane Xang đã có mức tăng trưởng vượt bậc với tốc độ tăng trưởng 260%…

Thực tế, không chỉ BIC và PTI nhanh chân đến với thị trường Lào. Trước đó, từ tháng 4/2007, cùng với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Tổng công ty Bảo hiểm dầu khí Việt Nam (PVI) đã tham gia ĐHCĐ của CTCP Điện Việt – Lào với tư cách là cổ đông sáng lập. Cùng với việc đầu tư này, PVI trở thành đơn vị cung cấp các dịch vụ bảo hiểm cho các công trình thuộc dự án thủy điện tại Lào do CTCP Điện Việt – Lào đầu tư xây dựng và vận hành.

Dù còn một vài khó khăn như hành lang pháp lý chưa đầy đủ, thị trường này cũng đang cạnh tranh quyết liệt, đặc biệt là cạnh tranh phi kỹ thuật…, nhưng theo các chuyên gia, đây là thị trường đầy tiềm năng, nếu nắm vững luật lệ của nước bạn và quản trị tốt rủi ro, các DN bảo hiểm Việt có thể hoàn toàn yên tâm “mang chuông đi đánh xứ người”. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh doanh trong nước cạnh tranh ngày càng khốc liệt thì hướng mở sang thị trường nước bạn như Lào đang trở thành một “xu hướng” đầu tư của các DN Việt Nam.

Campuchia: thị trường mở

Thống kê cho thấy, Việt Nam hiện là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ 7 tại thị trường Campuchia. Đối với lĩnh vực bảo hiểm, có thể coi Công ty Bảo hiểm Cambodia Việt Nam – CVI là công ty bảo hiểm đầu tiên có sự tham gia góp vốn của một ngân hàng Việt (BIDV) và là công ty bảo hiểm thứ 7 hoạt động trên thị trường Campuchia. Hiện CVI đang dẫn đầu thị trường Campuchia trong lĩnh vực bảo hiểm hàng không. Nhận định tiềm năng của thị trường mới nổi này, mới đây, BIC đã có văn bản trình Bộ Tài chính xin cấp phép đầu tư góp vốn vào CVI. Theo đó, BIC sẽ nhận chuyển nhượng khoản góp vốn từ Công ty Đầu tư và Phát triển Campuchia (IDCC) để sở hữu tương đương 65% vốn điều lệ của CVI.

Theo ông Cao Minh Sơn, Tổng giám đốc CVI, Campuchia là một điểm nóng đầu tư vì 3 lý do. Thứ nhất, đồng USD được sử dụng phổ biến ở nước này, cho phép các hãng bảo hiểm chuyển nguồn thu phí về nước mà không phải chuyển đổi. Thứ hai, Campuchia là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và sự góp mặt của các hãng bảo hiểm quốc tế lớn vẫn còn mờ nhạt. Thứ ba, không có sự khống chế về tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong ngành dịch vụ tài chính ở Campuchia, nên sự gia nhập của các công ty nước ngoài vào thị trường này tương đối dễ dàng. Việc đăng ký tham gia hoạt động trong ngành ngân hàng và bảo hiểm được nhập chung trong một giấy phép.

Đặc biệt, khác với nhiều quốc gia Đông Nam Á, ngành bảo hiểm phi nhân thọ của Campuchia phát triển hơn bảo hiểm nhân thọ, nguyên nhân chính là do đa số người dân chưa đủ điều kiện tài chính để mua bảo hiểm nhân thọ. Được biết, không chỉ BIDV, hiện các định chế tài chính khác như Agribank, MB… cũng đã và đang trong quá trình thâm nhập thị trường Campuchia đầy tiềm năng. Chắc chắn lĩnh vực bảo hiểm cũng sẽ là tâm điểm nóng được các nhà đầu tư cân nhắc và đánh giá kỹ lưỡng.

Myanmar: đi tìm cơ hội “vàng”

Tuy nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn do nhiều năm bị cấm vận nhưng với nguồn tài nguyên phong phú, Myanmar đang vươn lên và là thị trường nhiều tiềm năng trong hợp tác kinh tế, thương mại với các nước. Nhiều DN Việt Nam đã nhanh chân đón đầu cơ hội đầu tư vào thị trường này như BIDV, Petro Vietnam, Hoàng Anh Gia Lai, Simco Sông Đà, Viglacera, Vina Capital, ASV Pharma, Vietnam Airlines, Viettel… Cơ hội “vàng” ở Myanmar mà người ta vẫn nói đến đó là 90% hàng công nghiệp phải nhập khẩu, nhiều lĩnh vực quan trọng như dịch vụ, y tế, tài chính… còn đang bỏ ngỏ.

Trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, hiện BIDV đã mở văn phòng đại diện tại đường Pyay Road tại Yangon, thành phố lớn nhất của Myanmar vào năm 2011. Theo các chuyên gia tài chính, văn phòng này sẽ là cầu nối, đầu mối trong việc xúc tiến quan hệ, nghiên cứu, tìm hiểu thông tin về thị trường Myanmar để BIDV có cơ sở quyết định đầu tư chính thức các hoạt động kinh doanh tại đây, trong đó có cả hoạt động kinh doanh bảo hiểm của công ty con BIC.

Ông Phạm Quang Tùng, Chủ tịch HĐQT BIC từng chia sẻ với phóng viên ĐTCK, Myanmar là thị trường lớn, tiềm năng, nhưng việc đầu tư kinh doanh bảo hiểm trực tiếp vào thị trường này trong giai đoạn hiện nay đang gặp một số trở ngại về pháp lý. Vì vậy, BIC mới đang trong giai đoạn tìm hiểu, nghiên cứu cơ hội đầu tư và tất nhiên sẽ có quyết định vào thời điểm phù hợp. Được biết, hiện BIDV đang đề nghị được mở ngân hàng 100% vốn hoặc liên doanh tại Myanmar ngay khi Chính phủ nước này mở cửa ngành ngân hàng.

Khi thị trường trong nước đang gánh chịu hậu quả của suy thoái kinh tế, tăng trưởng của ngành bảo hiểm có xu hướng chững lại, thì đây lại là thời điểm phù hợp để các DN bảo hiểm Việt tiến ra thế giới. Với các bước đi chắc chắn, thuyết phục ở Lào, Campuchia, thì các điểm đến tiếp theo như Myanmar hay thậm chí là xa hơn nữa sẽ là những thử thách thú vị đối với các DN bảo hiểm Việt.

Từ khoá: kinh doanh bảo hiểm thương hiệu bảo hiểm doanh thu bảo hiểm lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm lvi hoạt động kinh doanh bảo hiểm tài chính dịch vụ tài chính việt nam vụ bảo hiểm nền kinh tế bidv thị trường bảo hiểm sản phẩm bảo hiểm dịch vụ bảo hiểm văn phòng đại diện bảo hiểm công trình xây dựng công ty bảo hiểm cambodia việt nam cvi bảo hiểm tài sản tiềm năng gia dịch vụ bảo hiểm nhân thọ công ty bảo hiểm giải quyết bồi thường vật chất xe cơ giới ngành bảo hiểm xây dựng lĩnh vực tài chính sản phẩm công ty bảo hiểm dầu khí việt nam góp vốn phát triển doanh thu dẫn đầu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ bảo hiểm dầu khí cung cấp môi trường kinh doanh hãng bảo hiểm xu hướng đầu tư suy thoái kinh tế pti bảo hiểm nhân thọ vốn điều lệ tăng trưởng dầu khí việt nam lĩnh vực bảo hiểm triển khai sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ chuyên gia thị trường mới mở rộng thị trường tham gia bảo hiểm hợp tác bảo hiểm vật chất liên doanh triển khai sản phẩm thị trường vật chất xe bảo hiểm vật chất xe cơ giới mua bảo hiểm nhân thọ cạnh tranh bảo hiểm con người bộ tài chính tổng giám đốc công ty bảo hiểm dầu khí việt nam bic bảo hiểm vật chất xe kinh doanh ngân hàng bão kinh tế mua bảo hiểm công trình xây dựng bảo hiểm hàng không công ty bảo hiểm dầu khí

Tìm động lực phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam

(ĐTCK) Điều kiện kinh tế, kinh doanh khó khăn chung đang tác động đến mọi cá nhân, doanh nghiệp trong xã hội, trong đó có các doanh nghiệp bảo hiểm.

Với đặc thù là trung gian chia sẻ tổn thất, rủi ro trong xã hội, các doanh nghiệp bảo hiểm hiểu rất rõ vai trò của mình lúc này và đang hết sức nỗ lực để trụ vững và phát triển, góp phần duy trì sự ổn định chung của đời sống kinh tế – xã hội. Và trong lĩnh vực bảo hiểm, tái bảo hiểm lại là người đứng sau, có vai trò tạo động lực cho các doanh nghiệp phát triển.

Tăng trưởng trong khó khăn

Năm 2012, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với hệ quả bất ổn kinh tế vĩ mô trong nội tại và ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, nợ công châu Âu… Tốc độ tăng trưởng GDP đạt mức thấp nhất trong nhiều năm gần đây. Đời sống kinh tế – xã hội tiếp tục gặp nhiều khó khăn. Cùng với đó, môi trường đầu tư có nhiều biến động, nợ xấu và rủi ro tăng cao; lãi suất thị trường giảm mạnh… Tất cả những yếu tố trên đã và đang gây ảnh hưởng không nhỏ đối với hoạt động kinh doanh các DN bảo hiểm, trong đó có Vinare.

Lãnh đạo Vinare và Swiss Re tiếp kiến Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh ngày 18/3/2013

Thị trường bảo hiểm Việt Nam đã không thể duy trì được đà tăng trưởng cao như những năm trước. Cụ thể, trong năm 2012, tổng doanh thu phí đạt khoảng 41.000 tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2011. Trong đó, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tăng trưởng 10,7%, nhân thọ tăng trưởng 13,7% (trong khi các năm trước có mức tăng trưởng khoảng 18 – 25%). Doanh thu phí các dịch vụ có tái bảo hiểm tăng trưởng không đáng kể, hoặc tăng trưởng âm (bảo hiểm kỹ thuật ước giảm 30%, bảo hiểm thân tàu giảm khoảng 40%). Tình hình cạnh tranh tiếp tục diễn ra gay gắt, bằng chi phí khai thác, giảm phí, mở rộng điều kiện điều khoản… Tình hình tổn thất tiếp tục xấu, vấn đề đánh giá rủi ro, giải quyết bồi thường vẫn đáng lo ngại. Đặc biệt, nghiệp vụ bảo hiểm tài sản tiếp tục có tỷ lệ tổn thất cao. Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm gốc chịu lỗ nghiệp vụ không hề thuyên giảm. Năm 2012 có 17/29 doanh nghiệp lỗ kinh doanh nghiệp vụ so với 14/29 doanh nghiệp năm 2011.

Mặc dù vậy, một số kết quả đạt được là rất đáng khích lệ. Toàn ngành bảo hiểm đã đầu tư gần 90.000 tỷ đồng vào nền kinh tế quốc dân, góp phần phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm an sinh xã hội. Các DN bảo hiểm cũng đang tiến hành tái cơ cấu, đảm bảo biên khả năng thanh toán, danh mục đầu tư an toàn, hiệu quả; xử lý nợ khó đòi (trong đó có nợ phí bảo hiểm) và tái cơ cấu vốn chủ sở hữu, giảm dần vốn của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tại các DN bảo hiểm; lựa chọn đối tác chiến lược tham gia góp vốn.

Trong tình hình khó khăn chung, một số DN bảo hiểm đã có nhiều nỗ lực về mọi mặt và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ kinh doanh năm 2012, trong đó có Vinare. Năm 2012, doanh thu phí nhận tái bảo hiểm (loại trừ doanh thu thí điểm bảo hiểm nông nghiệp) của Vinare đạt 1.608 tỷ đồng, đạt trên 100% kế hoạch và tăng trưởng 13,3% so với năm 2011. Phí giữ lại của Vinare đạt 646 tỷ đồng, tăng 32,9% so với năm trước. Lợi tức thuần nghiệp vụ đạt trên 38 tỷ đồng, tăng trưởng 25,6% so với năm 2011. Tổng lợi tức trước thuế (không bao gồm hoạt động thí điểm nông nghiệp) đạt 333 tỷ đồng, bằng 111,9% so với cùng kỳ năm trước và đạt 111,1% so với kế hoạch được giao. Trong lĩnh vực đầu tư, thu nhập từ hoạt động đầu tư tài chính và hoạt động khác trong năm 2012 đạt 295 tỷ đồng. Hoạt động đầu tư an toàn, không có thất thoát hoặc công nợ khó đòi. Mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của môi trường đầu tư chung, với chủ trương an toàn – hiệu quả – phát triển bền vững và chiến lược phân bổ tài sản đầu tư đúng đắn, chính sách quản trị rủi ro hoạt động tốt, kết quả đầu tư và chất lượng tài sản đầu tư Vinare đạt được là đáng khích lệ.

Hội thảo Natcat & Event limit do Vinare tổ chức cho toàn thị trường Bảo hiểm Việt Nam

Trong năm 2012, thực hiện Quyết định số 315/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, Vinare đã phối hợp cùng Bảo Việt và Bảo Minh thực hiện trọng trách này. Đây vừa là niềm tự hào, vừa là thách thức đối với hoạt động kinh doanh của Vinare, Bảo Việt, Bảo Minh nói riêng và ngành bảo hiểm nói chung trong nỗ lực triển khai các chính sách của Đảng và Chính phủ. Hoạt động triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp được đánh giá là thành công. Với trách nhiệm là nhà thu xếp tái bảo hiểm, Vinare đã cùng Bảo Việt, Bảo Minh, Swiss Re nghiên cứu và đề xuất với các doanh nghiệp, các cơ quan hữu quan để thiết kế, xây dựng sản phẩm phù hợp, triển khai, đánh giá và thu xếp tái bảo hiểm an toàn – hiệu quả cho chương trình. Tổng số phí nhận tái bảo hiểm phát sinh trong năm 2012 ước đạt 86,8 tỷ đồng, số tiền bồi thường thuộc trách nhiệm ước khoảng 24,6 tỷ đồng. Năm 2013, các bên đang tiếp tục chỉnh sửa các điều kiện/điều khoản cũng như các chính sách/giải pháp liên quan đến chương trình thí điểm, nhằm mục đích thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng và Chính phủ trong lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp.

Động lực nào cho năm 2013?

Năm 2013, nền kinh tế nói chung được nhìn nhận là chưa có dấu hiệu phục hồi tăng trưởng rõ ràng, dự báo tăng trưởng GDP ở mức 5,3%. Những thách thức kinh tế chính vẫn nằm ở sự bất ổn về môi trường kinh doanh; suy giảm về cầu tiêu dùng; giá nguyên vật liệu tăng; tình hình nợ xấu của các ngân hàng, nợ công… Trong năm nay, Chính phủ sẽ tăng cường thực thi các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp và kích cầu tiêu dùng; kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; thực hiện tái cấu trúc kinh tế; đảm bảo an sinh xã hội; đẩy mạnh cải cách hành chính.

Còn ở thị trường bảo hiểm, năm 2013, tình hình kinh tế vĩ mô được nhìn nhận tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động khai thác bảo hiểm. Dự báo thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tăng trưởng 10 – 12%, tuy nhiên, tăng trưởng chủ yếu tập trung ở các sản phẩm bảo hiểm cá nhân, các dịch vụ có tái bảo hiểm hầu hết được dự báo sẽ tăng trưởng âm. Xu hướng tổn thất tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự đoán (thiên tai, lạm phát, trục lợi,..). Cạnh tranh tiếp tục diễn ra quyết liệt ở tất cả các dịch vụ bảo hiểm, tái bảo hiểm. Cùng với đó, tình trạng nợ đọng phí và chiếm dụng vốn trong thanh toán tái bảo hiểm chưa được cải thiện, đặc biệt năm 2013, số doanh nghiệp là khách hàng của doanh nghiệp bảo hiểm bị phá sản, giải thể có khả năng tăng lên so với 2012.

Trước tình hình đó, về phần Vinare, Công ty tiếp tục chủ trương sát cánh cùng thị trường kiểm soát chặt chẽ rủi ro được bảo hiểm, khắc phục các tồn tại, góp phần từng bước lành mạnh hóa thị trường bảo hiểm trong môi trường cạnh tranh, đảm bảo chi trả kịp thời, đầy đủ các tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm, góp phần ổn định sản xuất và đời sống xã hội.

Trong kinh doanh tái bảo hiểm, với chủ trương đặt hiệu quả lên hàng đầu, tăng cường kiểm soát chất lượng rủi ro được bảo hiểm/tái bảo hiểm, kế hoạch doanh thu phí nhận năm 2013 của Vinare (không bao gồm nghiệp vụ bảo hiểm nông nghiệp thí điểm) dự kiến đạt 1.412 tỷ đồng; doanh thu phí nhận tái bảo hiểm nông nghiệp thí điểm dự kiến đạt 180 tỷ đồng; lợi tức trước thuế dự kiến 360 tỷ đồng (chưa bao gồm thí điểm nông nghiệp), tăng trưởng 20% so với cùng kỳ năm trước. Vinare cũng sẽ triển khai hàng loạt giải pháp nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh, tăng cường năng lực cung cấp giá trị gia tăng cho khách hàng. Ngoài ra, Vinare tiếp tục phối hợp cùng các doanh nghiệp bảo hiểm gốc triển khai các nghiệp vụ bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, bảo hiểm năng lượng hạt nhân, nghiên cứu khả thi thành lập quỹ bảo hiểm thiên tai cho toàn ngành..

Hội nghị Tái bảo hiểm lần thứ V do Vinare tổ chức cho toàn thị trường Bảo hiểm Việt Nam

Trong lĩnh vực đầu tư, Vinare tiến hành rà soát lại chiến lược phân bổ đầu tư theo hướng an toàn, hiệu quả bền vững, nâng cao kỹ năng phân tích, đánh giá, quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư. Thực hiện Thỏa thuận hợp tác chiến lược với Swiss Re, Vinare đang nỗ lực hiện thực hóa các mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh: năng lực cung cấp sản phẩm, năng lực quản lý, củng cố tiềm lực tài chính và năng lực bảo hiểm, xây dựng hệ thống công nghệ thông tin hiện đại và nâng cao năng lực đầu tư.

Vinare sẵn sàng đón nhận và vượt qua các thử thách trong quá trình thực hiện chiến lược nâng tầm hoạt động, trở thành nhà tái bảo hiểm – đầu tư chuyên nghiệp, uy tín và có vị trí hàng đầu trong khu vực và là chỗ dựa vững chắc cho thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển.

Vì một thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21. Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới. Hậu quả của biến đổi khí hậu nói chung và các thảm họa nói riêng là nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Ngành bảo hiểm thực sự đóng một vai trò quan trọng trong việc bù đắp thiệt hại, ổn định sản xuất và đời sống, hỗ trợ tái thiết nền kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh xã hội. Mặt khác, chính ngành bảo hiểm/tái bảo hiểm cũng bị ảnh hưởng, thiệt hại trực tiếp về tài chính hoặc gián tiếp chịu ảnh hưởng do kết quả của môi trường kinh doanh thay đổi và khuôn khổ luật lệ thắt chặt.

Nhằm chủ động đưa ra các giải pháp chung cho toàn thị trường, Vinare đã thực hiện đồng bộ một loạt giải pháp như phối hợp với đối tác chiến lược Swiss Re khảo sát thị trường và tổ chức Hội thảo “Nat cat & Event Limit” vào tháng 7/2012. Tại Hội nghị này, Vinare và các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đã thống nhất phối kết hợp chặt chẽ với nhau để thực hiện đồng bộ các giải pháp: thu thập thông tin và dữ liệu, làm cơ sở cho việc tính toán và đánh giá nguy cơ rủi ro thiên tai trong tương lai, trong đó, Vinare đảm nhận việc quản lý dữ liệu tập trung nhằm nghiên cứu, tính toán và đề xuất việc phát triển mô hình Nat Cat một cách minh bạch và dễ tiếp cận đối với toàn bộ thị trường bảo hiểm. Với một mô hình Nat Cat thống nhất trên thị trường bảo hiểm, trong trường hợp các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước cần hỗ trợ, Vinare sẽ đóng vai trò làm đầu mối thu xếp tái bảo hiểm với các nhà tái bảo hiểm trong nước và quốc tế, đồng thời đưa ra hợp đồng bảo vệ cho rủi ro thiên tai. Vinare đã tổ chức Hội nghị tái bảo hiểm toàn thị trường bảo hiểm Việt Nam vào tháng 11/2012 tại Đà Lạt nhằm phân tích, đánh giá và đưa ra các giải pháp, kiến nghị phát triển một thị trường bảo hiểm bền vững và hiệu quả.

Từ khoá: khai thác bảo hiểm sản phẩm bảo hiểm tài chính thị trường bảo hiểm việt nam bảo hiểm tín dụng xuất khẩu chi phí khai thác gia tài sản quỹ bảo hiểm kinh doanh tiền bồi thường vai trò thị trường bảo hiểm phi nhân thọ giải pháp việt nam vụ bảo hiểm thí điểm bảo hiểm tái bảo hiểm khí hậu nền kinh tế rủi ro thiên tai doanh thu nghiên cứu đánh giá rủi ro nhận tái bảo hiểm an toàn thị trường đầu tư tài chính triển khai thí điểm nông nghiệp quản trị rủi ro doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cung cấp sản phẩm công nghệ thông tin phi nhân thọ triển khai sản phẩm hiệu quả bảo minh bảo hiểm gốc bảo hiểm cá nhân bảo hiểm năng lượng hoạt động khai thác bảo hiểm môi trường vinare giải quyết bồi thường bảo hiểm kỹ thuật kinh doanh tái bảo hiểm thị trường bảo hiểm nghiệp vụ bảo hiểm tài sản dịch vụ bảo hiểm phí bảo hiểm lĩnh vực bảo hiểm khó khăn biến đổi khí hậu tái cấu trúc cạnh tranh kế hoạch số tiền bồi thường sản phẩm bảo hiểm cá nhân giá trị gia tăng tăng trưởng thiên tai ổn định rủi ro được bảo hiểm chính phủ trách nhiệm bảo hiểm nhân thọ bảo hiểm phi nhân thọ kết quả bảo hiểm nông nghiệp bảo hiểm tín dụng khủng hoảng tài chính nghiệp vụ bảo hiểm môi trường kinh doanh thí điểm nhà tái bảo hiểm phát triển bảo hiểm xây dựng dịch vụ doanh nghiệp bảo hiểm gốc doanh nghiệp bảo hiểm bảo hiểm thiên tai công ty nhà nước quỹ bảo hiểm thiên tai tổng công ty nhà nước nợ phí bảo hiểm bảo hiểm bảo hiểm tài sản diễn biến phức tạp ngành bảo hiểm swiss re trách nhiệm doanh nghiệp tổn thất kinh tế bảo hiểm thân tàu thách thức khả năng thanh toán đối tác chiến lược bảo việt bão chiến lược

Đẩy mạnh khả năng phân phối hàng Việt

(HNM) – Tiếp tục phát triển thị trường trong nước đối với hàng Việt bằng việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp (DN); kết nối sản phẩm, đặc sản của làng nghề với hệ thống phân phối từ truyền thống đến hiện đại… nhằm đẩy mạnh khả năng tiêu thụ hàng hóa Việt trên thị trường nội địa là những hoạt động chủ đạo của các DN Việt Nam trong năm 2013.

Cả nước ta hiện có khoảng 3.000 làng nghề truyền thống, trong đó chỉ có 12% số làng nghề kết hợp tốt với các kênh phân phối, còn lại bán hàng chủ yếu mang tính tự phát, không có kênh phân phối ổn định, thị trường tiêu thụ bấp bênh. Mặc dù, các đặc sản và sản phẩm làng nghề ở nước ta rất nhiều, chất lượng sản phẩm tốt, hầu hết DN sản xuất những mặt hàng này đều có tâm huyết phát triển sản phẩm, nhưng do năng lực tài chính có hạn nên không đủ tài lực kết nối với các hệ thống phân phối hiện đại. Bên cạnh đó, do các DN thiếu thông tin về thị trường, chưa liên kết được với nhau để tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranh, nên việc phát triển các ngành, nghề thường tự phát không gắn với nhu cầu của thị trường. Thêm vào đó, DN còn phải chịu sự cạnh tranh không lành mạnh từ hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng trà trộn trên thị trường… khiến số DN phá sản, ngừng hoạt động ngày càng tăng. Vì thế, để các DN vừa và nhỏ có thể tồn tại, phát triển thì một trong những biện pháp quan trọng là giúp hàng hóa của DN tiếp cận được với các kênh phân phối hiện đại, đẩy mạnh khả năng bán hàng.

Theo Bộ Công thương, cả nước hiện có khoảng 650 siêu thị và 120 trung tâm thương mại. Ngoài ra, còn hàng nghìn cửa hàng chuyên doanh và cửa hàng tiện ích phân bố rộng khắp cả nước. Ước tính, thị phần của các loại hình bán lẻ hiện đại chiếm 20-30% tổng mức bán lẻ. Quan trọng hơn cả, tại các kênh phân phối này, hệ thống hàng Việt có xu hướng tăng mạnh, tạo cơ hội cho hàng Việt có cơ hội tiêu thụ lớn, nhất là trong bối cảnh hàng tồn kho nhiều và kéo dài như hiện nay. Nếu như vào những năm 2005-2006, tỷ trọng hàng Việt trong siêu thị chỉ chiếm 40-50%, thì đến nay tỷ lệ này đã tăng lên 80-90%, thậm chí có những siêu thị có đến 95-98% là hàng Việt Nam như Co.opMart, Big C, hệ thống Vinatex… Tại các hệ thống bán lẻ này, sản phẩm made in Việt Nam ngày càng phong phú, giá cả hợp lý, sức tiêu thụ khá, tạo thuận lợi cho người tiêu dùng, mang lại lợi nhuận cho nhà sản xuất. Được biết, ưu tiên hàng đầu của Hội DN “Hàng Việt Nam chất lượng cao” (HVNCLC) trong năm nay là tiếp tục phát triển thị trường trong nước đối với hàng Việt bằng nhiều giải pháp như nâng cao năng lực cạnh tranh cho DN nhỏ thông qua hợp tác, tư vấn sản xuất và kinh doanh sản phẩm tại hai hệ thống siêu thị lớn nhất cả nước là Co.opMart và BigC. Đồng thời, triển khai hoạt động kết nối sản phẩm đặc sản, làng nghề với hệ thống phân phối ở các trung tâm tiêu dùng lớn; phát triển về chiều sâu chương trình “Đưa hàng Việt về nông thôn”; kết nối nhà sản xuất với mạng lưới phân phối tại 10 tỉnh, thành phố lớn trên cả nước; kết nối tiểu thương chợ truyền thống với Hội DN HVNCLC. Ngoài ra, Hội DN HVNCLC sẽ triển khai nhiều hoạt động để đưa hàng Việt ra thị trường quốc tế nhiều hơn qua việc tích cực tham gia dự án ASEAN+1; tăng cường liên kết với các cơ quan đại diện thương mại tại Việt Nam của các thị trường trọng điểm như Thái Lan, Nhật Bản, Indonesia… Bên cạnh đó, xúc tiến xây dựng, bảo vệ và phát huy giá trị sử dụng của thương hiệu “HVNCLC”; tiến hành đăng ký bảo hộ logo và nhãn hiệu “HVNCLC” tại các nước lân cận.

Những hiệu quả mà kênh phân phối bán lẻ hiện đại mang lại cho hàng Việt trong thời gian qua rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, để chiếm lĩnh có hiệu quả hệ thống phân phối này, nhà sản xuất và cung ứng sản phẩm bán lẻ cần xác định những cam kết cùng đồng hành phát triển để mang lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng. Để giảm giá thành, nâng cao sức cạnh tranh, thời gian qua nhiều siêu thị đã liên kết với các nhà sản xuất, hộ nông dân để thu mua sản phẩm, từ đó vừa thu mua được hàng hóa, nông sản tận gốc, tươi mới, vừa giảm được khâu trung gian, tiết kiệm chi phí…

Từ khoá: sản phẩm thị trường quốc tế tiêu dùng việt nam chất lượng cao năng lực tài chính phát triển phát triển thị trường giá trị sử dụng chất lượng tiêu thụ kênh phân phối không lành mạnh hàng hóa chất lượng sản phẩm cạnh tranh không lành mạnh thị trường cạnh tranh người tiêu dùng đặc sản gia liên kết

Nỗi lo thả nổi điện, xăng

(GD&TĐ) – Năng lượng (trong đó chủ đạo là xăng dầu và điện) luôn được coi là mạch máu của mọi nền kinh tế, sự lên xuống của giá cả mặt hàng đặc biệt này luôn có sự tác động mạnh mẽ tới mọi góc cạnh của bất cứ nền kinh tế nào. Điều đó, không cần phải là một chuyên gia kinh tế mới hiểu được.

Phương án “thả nổi”

Khi mà giá xăng dầu bán lẻ trong nước đã liên tiếp điều chỉnh, giá điện cũng liên tục “dọa” tăng trong khi nền kinh tế vẫn chưa thực sự qua khỏi giai đoạn khó khăn, người dân không khỏi giật mình khi Bộ Công Thương lại vừa đề xuất lên Chính phủ phương án “thả nổi” giá xăng dầu và điện.

Trong văn bản gửi Thủ tướng cách đây ít lâu nhằm đề xuất chỉnh sửa một số nội dung của dự thảo Luật Giá, Bộ Công Thương đã nêu kiến nghị đã đến lúc Nhà nước không nên định giá điện, xăng dầu mà nên nhường quyền tự quyết cho doanh nghiệp tự chèo lái. Với xăng dầu, có lẽ do tác động ghê gớm của nó đối với nền kinh tế trong đợt điều chỉnh tăng giá kỷ lục ngày 28/3 (dù sau đó Liên bộ Công Thương – Tài chính do tác động ngược chiều của giá giao dịch thế giới, đã có 2 lần điều chỉnh giảm giá xăng dầu bán lẻ, tương ứng mỗi lần điều chỉnh khoảng hơn 400 ngàn VNĐ/lít xăng) gây “nổi sóng” dư luận, nên Bộ Công Thương chỉ đề cập đến việc cần đẩy mạnh hơn nữa hiệu lực của Nghị định 84 về kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị trường vào cuộc sống, chứ không đưa ra các đề xuất cụ thể nào mới. Quan điểm trong đề xuất của Bộ chủ quản khá rõ ràng: Nên để việc điều hành giá cho doanh nghiệp tự chèo lái.

Trong bối cảnh độc quyền của EVN trên thị trường điện, thả nổi giá điện chẳng khác gì thả nổi nền kinh tế

Cụ thể, theo Bộ Công Thương, mặt hàng điện đã có chủ trương rõ ràng, theo cơ chế thị trường. Bằng chứng rõ nhất là thị trường phát điện cạnh tranh đang được triển khai thí điểm hơn 2 năm qua, theo lộ trình đề án do Bộ Công Thương đề xuất và được Chính phủ thông qua. Theo đó, thị trường điện cạnh tranh Việt Nam phải đi qua 3 cấp độ: thị trường phát điện cạnh tranh (giai đoạn 2005-2014), thị trường bán buôn điện cạnh tranh (giai đoạn 2015-2022) và cuối cùng là thị trường bán lẻ điện cạnh tranh (giai đoạn sau 2022). Trong khi đó, theo Bộ Công Thương, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực cũng đã đưa ra đề xuất Nhà nước chỉ nên kiểm soát khung giá phát điện, bán buôn, truyền tải, phân phối, phí dịch vụ điều độ hệ thống điện… Tuy nhiên, cho đến nay đã bước vào quý II của năm 2013, giá điện theo cơ chế thị trường vẫn chưa được triển khai trên thực tế là điều ai cũng thấy rõ. Thậm chí, cả xã hội đều biết rằng EVN vừa đề xuất từ tháng 5 này trở đi sẽ có hướng điều chỉnh giá điện do khả năng thiếu nguồn cung bởi ảnh hưởng của thời tiết (khiến nguồn điện không về được tại một số công trình thuỷ điện nổi cộm). Điều đó đặt ra vấn đề nếu để thủy điện tiếp tục ổn định, người dân cũng như cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục chịu nguồn thu cao hơn để ngành điện có khả năng cải thiện nguồn cung của mình.

Những đề xuất có vẻ là hợp lý nếu Việt Nam thực sự đã có cạnh tranh bình đẳng về cung ứng và phân phối điện giữa các doanh nghiệp. Thực tế thì thế nào? Ai cũng hiểu thị trường điện là độc quyền của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực hoặc là công ty con của Tập đoàn này, hoặc chịu sự điều tiết (về sản lượng, về giá cả) của Tập đoàn, và muốn bán ra thị trường như thế nào đều phải thông qua Tập đoàn.

“Bao bọc” đến bao giờ?

Khi thị trường bán lẻ cạnh tranh chưa hề có lộ trình cụ thể (chỉ là mục tiêu đặt ra cho các giai đoạn như ở trên chúng tôi vừa đề cập), Bộ chủ quản đã sốt sắng đề nghị việc thả nổi giá. Một khi đã không có thị trường, thử hỏi “ông” EVN phải cạnh tranh với ai? Không phải cạnh tranh nhưng lại được quyền quyết định về giá – nếu điều phi lý này trở thành hiện thực, người dân chuẩn bị sắm đèn dầu đi làm; còn nền kinh tế, có lẽ không nên đặt hy vọng vào việc giảm đà tăng của chỉ số giá tiêu dùng để qua đó giảm được lạm phát.

Phi lý khi không phải cạnh tranh nhưng lại muốn có quyền quyết định về giá
Phi lý khi không phải cạnh tranh nhưng lại muốn có quyền quyết định về giá

Nuông chiều “đứa con”, cho thấy đề xuất của Bộ Công Thương (may thay Bộ này không có quyền quyết định nên mới chỉ là đề xuất) rõ ràng không quan tâm nhiều đến lợi ích chung của nền kinh tế cũng như đời sống người dân. Ai cũng biết từ lâu EVN đã mong muốn đến thế nào việc tự quyết về giá điện; gần như mỗi lần đề xuất tăng giá là một lần đính kèm đề nghị được tự quyết.

Mà riêng gì EVN. Thị trường bán lẻ xăng dầu trong nước, dẫu không đến mức một mình một chợ như thị trường điện với duy nhất ông EVN, nhưng Petrolimex (chiếm khoảng 60% thị phần) và một vài đầu mối lớn khác cũng liên tục đòi được quyền tự quyết về giá, nói theo thuật ngữ kinh tế là điều hành giá theo cơ chế thị trường. Ai cũng biết các doanh nghiệp này chi phối thị trường như thế nào và ngay các cơ quan chủ quản cũng không nắm được thực hư lỗ lãi ra sao, nếu giao quyền tự quyết thì còn thế nào nữa?

Dẫu sao, giá xăng vẫn còn có lúc hạ (dù là hạ cho có) và còn có thị trường dầu thô quốc tế, thị trường phân phối bán lẻ khu vực (với tham chiếu là thị trường bán lẻ xăng dầu Singapore, đầu mối nhập khẩu xăng dầu bán lẻ của Việt Nam). Còn giá điện, lấy gì để tham chiếu? Chuyện mù mờ lỗ lãi của các nhà kinh doanh xăng dầu vẫn có thể tính toán ra được ở chừng mực nào đó. Chuyện lỗ lãi của EVN, luôn là bí mật lớn trừ khi có thanh tra hay kiểm toán. Để một “nhà độc quyền” về mọi mặt như vậy tự quyết về giá, Bộ Công Thương đã “nghĩ” kỹ cho nền kinh tế chưa hay mới chỉ “nghĩ” riêng cho “đứa con cầu tự” của mình?

Chưa vào hè, người dân đã lo “đối phó” với… xăng, điện

Giá xăng dầu tăng, giá điện cũng rục rịch doạ tăng, kéo theo hàng loạt giá cả các mặt hàng khác cũng tăng khiến người dân bắt đầu ý thức với khái niệm tiết kiệm khi đổ xô đi mua quạt máy để thay thế điều hòa. Bên cạnh đó, trước nguy cơ cắt điện luân phiên. Cũng đủ để máy phát, quạt tích điện, đèn tích điện hoặc bộ kích điện… lên… “cơn sốt”.

Từ hơn một tháng trước, trên các trang web bán hàng trực tuyến đã bắt đầu sôi động về những mặt hàng nêu trên, thay vì hướng vào “xa xỉ phẩm” điều hoà như mọi năm. Còn những ngày chớm nóng vừa qua, các phố kinh doanh máy phát điện ở Hà Nội như Trường Chinh, Hàng Cháo, Minh Khai, Trương Đinh… đã thấy bày bán la liệt các loại máy phát điện công suất lớn nhỏ, lúc nào cũng tấp nập khách vào ra, mặc dù theo một số người kinh doanh thì 2/3 trong số đó là vào… kham khảo.

Theo quan sát của chúng tôi, thị trường máy phát điện năm nay ở Hà Nội vẫn tập trung ở các dòng máy do Nhật Bản sản xuất như Tiger, Kama xuất xứ Trung Quốc; Honda, Yamaha, Elemax, Kipor…; lác đác có thể một vài mác sản phẩm đến từ Hàn Quốc như Daishin và Hyundai. Đó là các mặt hàng có tên tuổi với giá thấp nhất cũng xấp xỉ 5 – 6 triệu đến vài chục triệu đồng/chiếc, tùy công suất. Chủ một cửa hàng ở Trương Định cho biết năm nay không nhập nhiều máy Trung Quốc nữa bởi người dân đã biết lựa chọn hơn, không đầu tư cho hàng Trung Quốc giá rẻ nhưng nhanh hỏng, công suất yếu.

Quan sát trên thị trường, các loại máy phát điện mini công suất từ 0,55 KVA đến 0,8 hoặc 1 KVA được bày bán nhiều nhất. Đó cũng là điều dễ hiểu bởi loại máy này phù hợp với nhu cầu sử dụng của hộ gia đình, giá cả lại hợp lý. Các loại máy phát điện này tùy thuộc vào chủng loại, công suất mà có giá từ 4 – 5 triệu đồng đến vài chục triệu đồng chiếc.

Bên cạnh máy phát điện là loại hàng quen thuộc thì gần đây trên thị trường cũng xuất hiện khá nhiều bộ kích điện. Trước đây, mặt hàng này chủ yếu có xuất xứ tại Trung Quốc như năm nay đã có hàng được lắp ráp tại Việt Nam, có kiểu dáng khá gọn nhẹ, thẩm mỹ và nhất là an toàn hơn đối với người sử dụng. Chủ cửa hàng đồ điện đầu đường Trường Chinh cho biết mặt hàng này bán chạy hơn máy phát điện do giá thành rẻ (dao động từ 1,8 đến 2,7 triệu đồng/ chiếc, tuỳ công suất máy). Loại sản phẩm này có thể biến dòng điện một chiều 12V từ bình ắc quy thành dòng điện xoay chiều 220V. Công suất của bộ kích điện cũng khá phong phú: 400VA, 600VA, 1000VA. Đi kèm thường là những bình ắc quy với công suất do khách hàng tự lựa chọn 50Ah, 100Ah, 150Ah, 180Ah), giá dao động từ 700.000 – 2,7 triệu đồng/chiếc tuỳ công suất.

Bắc Sơn

Từ khoá: triển khai thí điểm tập đoàn chủ quan người dân cạnh tranh evn thị trường bán lẻ gia doanh nghiệp trung quốc hệ thống điện quyết định kinh doanh nền kinh tế thị trường độc quyền việt nam kinh tế